Home » Nghiệp vụ bảo vệ » Tổng quan về công tác bảo vệ trong nền kinh tế thị trường

Tổng quan về công tác bảo vệ trong nền kinh tế thị trường

Dịch vụ bảo vệ là nhu cầu tất yếu của xã hội khi có trước những nguy cơ mất an ninh và an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản được hình thành từ sức lao động của tập thể và cá nhân.

Tổng quan về công tác dịch vụ bảo vệ chuyên nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Theo quy luật tự nhiên thì lực lượng bảo vệ luôn tồn tại và phát triển một cách khách quan trong xã hội.

Còn theo quy luật xã hội thì:

  • Khi loài người ở thời kỳ sơ khai thì giữa lực lượng lao động trực tiếp với gián tiếp đôi khi đan xen nhau.
  • Khi loài người phát triển đến một thời kỳ nhất định thì ngoài lực lượng lao động trực tiếp, thì lực lượng gián tiếp được từng bước hình thành rõ nét hơn như Nhà nước, Công an, Quân đội và Bảo vệ.

Công ty bảo vệ trong nền kinh tế thị trường

  1. Nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội:

Công ty bảo vệ trong nền kinh tế thị trường

  • Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế cạnh tranh, tùy thuộc vào sự phát triển và thể chế chính trị mỗi nước (Thể chế chính trị thể hiện quan hệ sản xuất và sở hữu tư liệu sản xuất).
  • Nhà nước sở hữu tư liệu sản xuất cơ bản như : Vùng biển, vùng trời, vùng đất, tài nguyên.

² Kinh tế bao cấp: Lực lượng bảo vệ bằng nhân lực dư thừa.

² Kinh tế thị trường: Sản xuất, đối tác, quan hệ đa dạng, phức tạp cạnh tranh gay gắt, khốc liệt nên lực lượng bảo vệ phải đủ mạnh và chuyên nghiệp. Nên đã có một lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp SECURITY như chúng ta hiện nay.

Ví dụ:

Việt Nam  

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế nhiều thành phần (Quốc doanh, tập thể, HTX, Tư nhân và TBTN). Trong đó có thành phần Tư bản tư nhân nhưng theo định hướng XHCN, tức là thành phần kinh tế Nhà nước (Quốc doanh) giữ vai trò chủ đạo.

Mỹ

  • Khi nói đến nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế thị trường Tư bản nói riêng thì phải nói đến sự cạnh tranh: Lợi nhuận – Tư hữu – Thị trường – Xã hội – Phát triển – Hàng Hóa – Tạo cơ sở vật chất cho xã hội (Tiền – Hàng hóa – Tiền).
  • Hiện nay cả nước có khoản trên 1000 Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ, trong đó tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Do là một loại ngành nghề kinh doanh mới, nhưng khi tham gia vào nền kinh tế thị trường các Doanh nghiệp cũng luôn cạnh tranh gay gắt, quyết liệt nhất là chất lượng dịch vụ và giá cả.
  1. Nhà nước điều chỉnh mối quan hệ của lực lượng bảo vệ trong xã hội đặc biệt là các cong ty bao ve:

  • Nhà nước quy định nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ nhằm tạo mối quan hệ giữa lực lượng bảo vệ với các lực lượng khác trong xã hội.

Ví dụ:

  • Khi làm nhiệm vụ có sự cố nghiêm trọng xảy ra thì phải phối hợp với cơ quan Công an địa phương hoặc các cơ quan chức năng khác có thẩm quyền để xử lý giải quyết.

Năm 2001 Nhà nước đã ghi nhận nghề bảo vệ chuyên nghiệp là một nghề như mọi nghề khác trong xã hội.

  1. CƠ SỞ PHÁP LÝ:
    1. Nghị định 73:
  • Quản lý hoạt động tổ chức của lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước. Ngày 26/08/2002 Bộ Công an có thông tư hướng dẫn số : 10/2002/TT để hướng dẫn thực hiện  NĐ 73 của Chính phủ.
  • Trên cơ sở nội dung NĐ 73 của Chính Phủ và Thông tư hướng dẫn số 10 của Bộ Công An. Lực lượng bảo vệ hoạt động theo Luật doanh nghiệp, có Nghị định và Thông tư hướng dẫn riêng. Nhưng chúng ta vận dụng một số nội dung của NĐ 73 và Thông tư số 10 như sau:

+  Các biện pháp bảo vệ.

+  Tiêu chuẩn tuyển nhân viên bảo vệ.

+ Sử dụng trang phục, cấp hiệu, giấy chứng nhận CBNV và các giấy tờ liên quan khác.

  1. Nghị định 14:
    • Quản lý hoạt động kinh doanh DOANH DỊCH VỤ BẢO VỆ và Thông tư số 07/2001/TT ngày 18/09/2001 của Bộ Công An.
    • Đây là văn bản pháp lý xuyên suốt quá trình quản lý hoạt động kinh doanh DOANH DỊCH VỤ BẢO VỆ.
    • Người đứng đầu doanh nghiệp (người sử dụng lao động) chịu trách nhiệm trước pháp luật Nhà nước về việc tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ chuyên nghiệp.
  2. Nghị định 96/2016/NĐ-CP

Là nghị định mới nhất quy định điều kiện về an ninh, trật tự, công tác quản lý nhà nước và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự trên lãnh thổ Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016.

  • Người đứng đầu doanh nghiệp chịu trách nhiệm về điều kiện an ninh trật tự của doanh nghiệp
  • Điều kiện, tiêu chuẩn đối với nhân viên bảo vệ
  • Điều kiện liên doanh với tổ chức nước ngoài kinh doanh dịch vụ bảo vệ chuyên nghiệp,…
  • Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp.
  1. Bảo vệ an ninh chính trị:
    • Là bảo vệ sự ổn định về chính trị trong nội bộ, bảo vệ sự Lãnh đạo của Đảng và sự hoạt động bình thường của công ty. Chống mọi hành động xâm hại của các thế lực thù địch và các đối thủ cạnh tranh.

Các dấu hiệu của bọn tội phạm nghi có liên quan đến an ninh chính trị:

  • Các hoạt động phá hoại cơ sở vật chất, tài sản, gây rối, khủng bố, mưu sát ….vì mục đích chống đối.
  • Các hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng như: Tung tin thất thiệt, tờ rơi, truyền đơn (Fax, Web) xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước và công ty ta.
  • Các hoạt động thu thập tin tức bí mật, lấy cắp bí mật, lôi kéo, mua chuộc; các hoạt động gây phương hại cho an ninh nội bộ (ANNB) làm cho một bộ phận CBNV biến chất trở thành tay sai cho chúng.

Bảo vệ cơ sở vật chất, tài sản

  • Bao gồm tiền, vật tư, nguyên liệu, hàng hóa, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ …của công ty, của khách hàng mà chúng ta đang phục vụ.

Các hành vi xâm hại cơ sở vất chất, tài sản:

  • Cố ý làm trái, sử dụng, chiếm đoạt trái phép tài sản.
  • Tham ô, trộm cắp, thông đồng trộm cắp.
  • Cướp, cướp đoạt tài sản.
  • Lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản.
  • Phá, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
  1. Bảo vệ trật tự an toàn xã hội.
    • Bảo vệ kỷ cương, nề nếp, tổ chức, kỷ luật theo các quy định của Nhà nước, của công ty mà mọi bộ phận, CBNV phải tuân thủ. Mọi hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, công ty đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của xã hội và công ty.
    • Giữ gìn trật tự an toàn công ty, mục tiêu là những hoạt động trong việc thực hiện các nội quy, quy chế, quy trình sinh hoạt làm việc, giữ gìn kỷ cương nơi công cộng phòng ngừa các tệ nạn xã hội, vệ sinh môi trường.

Đối tượng đấu tranh trong công tác bảo vệ trật tự an toàn xã hội, công ty:

  • Bọn lưu manh, côn đồ.
  • Bọn cờ bạc, mại dâm, nghiện hút.
  • Người mê tín dị đoan.
  • CBNV bất mãn, tiêu cực.
  • Bọn phá rối trật tự công cộng, làm mất vệ sinh, có hành vi đồi trụy, thiếu đạo đức, quý khách vi phạm các quy tắc chung.
  • Trong hoạt động thực tế mọi hoạt động trên đều có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau một cách hữu cơ. Vì vậy hoạt động của công tác bảo vệ góp phần bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nói chung và mỗi doanh nghiệp, “M” nói riêng.

Đối với công tác bảo vệ hiện nay, nhà nước quản lý các Công ty bảo vệ chuyên nghiệp bằng các quy định của pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa nhà cung cấp dịch vụ bảo vệ và tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ. Việc thực hiện đúng theo quy định của pháp luật là quyền và nghĩa vụ của các bên, điều này sẽ giúp thúc đẩy loại hình dịch vụ này phát triển theo nền kinh tế thị trường.